Viêm tuyến tiền liệt là tình trạng bệnh lý nhiễm trùng cấp tính hay mạn tính của tuyến tiền liệt, với biểu hiện hội chứng lâm sàng đa dạng. Thường gặp bệnh cảnh lâm sàng là hội chứng đau vùng chậu mạn tính hay những người bệnh phát hiện mà không có triệu chứng lâm sàng điển hình.

Bạn đang xem: Nguyên nhân gây viêm tuyến tiền liệt

*

Viêm tuyến tiền liệt

Phân loại

+ Loại I: viêm tiền liệt tuyến cấp do vi khuẩn

+ Loại II: viêm tiền liệt tuyến mạn do vi khuẩn

+ Loại III: Viêm tuyến tiền liệt kèm với hội chứng đau vùng chậu mạn tính

Loại IIIA: Hội chứng đau vùng chậu mạn tính có phản ứng viêm cấp, có sự xuất hiện của các tế bào bạch cầu trong dịch tiết của tuyến tiền liệt hoặc trong tinh dịchLoại IIIB: Hội chứng đau vùng chậu mạn tính không có phản ứng viêm cấp, biểu hiện là không có sự xuất hiện của các tế bào bạch cầu trong dịch tiết của tuyến tiền liệt hay trong tinh dịch.

+ Loại IV: viêm tuyến tiền liệt không có triệu chứng. Thường không có đặc điểm lâm sàng mà được phát hiện tình cờ khi đi khám vì vô sinh hiếm muộn hoặc xét nghiệm tầm soát có PSA tăng cao.

Dịch tễ học

- Viêm tuyến tiền liệt là bệnh lý phổ biến ở nam giới dưới từ 50 tuổi trở lên hay mắc các bệnh về hệ tiết niệu sinh dục

- Xếp hang thứ 3 các mặt bệnh hay gặp ở Nam giới trên 50 tuổi sau bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt và ung thư tuyến tiền liệt.

- Tỷ lệ nam giới mắc gặp nhiều ở các nước Châu Phi 12,2%, sau đó là các nước Châu Âu 8,6%, cuối cùng là các nước Châu Á chiếm tỷ lệ 7,5%.


Nguyên nhân bệnh Viêm tuyến tiền liệt


Phần lớn nguyên nhân dẫn tới viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn là do lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn, ngoài ra cũng có thể gặp qua đường máu, đường bạch huyết hay từ các cơ quan lân cận. Tuy nhiên qua nhiều năm vẫn chưa có nghiên cứu nào chắc chắn đường lây nào cụ thể gây ra bệnh cảnh viêm tuyến tiền liệt.

*

Phần lớn nguyên nhân dẫn tới viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn là do lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn

Với những nam giới có đời sống quan hệ tình dục thoải mái, tiền sử đã nhiều lần mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì nguy cơ mắc viêm tuyến tiền liệt là rất cao.

Hình ảnh sinh lý bệnh của viêm tuyến tiền liệt cấp hay mạn tính là có sự xuất hiện của các tế bào viêm trong biểu mô ống tuyến và tuyến của tuyến tiền liệt. Tuy nhiên sự xuất hiện của các tế bào viêm trong dịch tiết tuyến tiền liệt hay trong nước tiểu không phản ánh chính xác hay tương đồng với các triệu chứng lâm sàng mà bệnh nhân đang có.

Ở những hình ảnh sinh lý bệnh của viêm tuyến tiền liệt mạn tính nguyên nhân do vi khuẩn thì người ta thấy là có nhiều tế bào viêm không đặc hiệu như tế bào lympho, đại thực bào hay các bào tương.

Trong viêm tuyến tiền liệt thì hội chứng đau vùng chậu mãn tính chẩn đoán dựa vào các triệu chứng đau vùng chậu của bệnh nhân, ngoài ra có thể có thêm các rối loạn chức năng sinh dục, chức năng thần kinh cơ trong khi kết quả nuôi cấy nước tiểu hay dịch tiết tuyến tiền liệt đều không phát hiện vi khuẩn gây bệnh.

Một số tác nhân gây viêm tuyến tiền liệt do virus có thể kể đến là người bệnh nhiễm virus HIV, CMV, Mycobacteriu hay nhiễm nấm…

Nguyên nhân

- Viêm tuyến tiền liệt cấp tính thường do các vi khuẩn thông thường tại tuyến tiền liệt hoặc ngược dòng từ niệu đạo gây nên.

- Viêm tuyến tiền liệt mạn tính thường liên quan tới tình trạng tái phát nhiều lần của các tác nhân gây viêm tại tuyến tiền liệt

- Nhóm vi khuẩn gram âm thường gặp như: các Enterobacteriaceae, E.Coli, Klebsiella

- Nhóm vi khuẩn gram dương thường gặp như: Enterococci là một trong những vi khuẩn gram dương thường gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu chiếm 5 - 10%. Tuy nhiên có 1 số nghiên cứu chưa chứng minh được các vi khuẩn gram dương có thực sự gây bệnh hay chỉ tham gia vào hệ vi khuẩn trong TTL

- Các vi khuẩn lây qua đường tình dục như Chlamydia, Gardnerella vaginalis, ure plasma, nấm candida,

- Sự thay đổi sức đề kháng của TTL:

+ Các yếu tố nguy cơ giúp vi khuẩn có thể ký sinh trong TTL: sự trào ngược các ống tiết trong TTL, viêm mào tinh hoàn cấp, hẹp bao quy đầu, quan hệ tình dục không an toàn, đặt sonde tiểu lâu ngày, các can thiệp hay phẫu thuật nội soi qua niệu đạo.

- Sự thay đổi các thành phần trong dịch tiết TTL: làm suy giảm khả năng kháng khuẩn của TTL, hạn chế khuếch tán của 1 số loại kháng sinh trong nhu mô của TTL.


Nếu không được điều trị kịp thời thì viêm tuyến tiền liệt có thể gây ra các biến chứng như:

- Bí tiểu hay tiểu khó.

*

Bí tiểu hay tiểu khó

- Với những bệnh nhân có suy giảm miễn dịch thì có thể dẫn tới áp xe tuyến tiền liệt.

- Vô sinh ở nam giới do biến chứng làm viêm xơ hẹp niệu đạo hay ống phóng tinh.

- Viêm bàng quang.

- Viên thận bể thận.

- Nhiễm khuẩn huyết.


- Nam giới cần tránh quan hệ tình dục không an toàn, nên quan hệ 1 vợ 1 chồng hoặc chung thủy với 1 bạn tình.

- Nên duy trì thói quen uống nhiều nước mỗi ngày, thường 2 - 4 lít/ngày, không nên tạo thói quen xấu là nhịn tiểu.

- Hạn chế sử dụng các chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá,…

*

Hạn chế sử dụng các chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá,.. để phòng ngừa bệnh viêm tuyến tiền liệt

- Vệ sinh cơ quan sinh dục hàng ngày hay sau quan hệ.

- Khám định kỳ hoặc khi có dấu hiệu bất thường tại cơ quan sinh dục, cần tuân thủ hướng điều trị và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.

Hiện nay tại Bệnh viện đa khoa lucdia2.vn có đội ngũ bác sĩ chuyên khoa Nam khoa, Niệu khoa giàu kinh nghiệm, cùng hệ thống xét nghiệm hiện đại giúp cho quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh viêm TTL được dễ dàng và hiệu quả hơn.


1. Triệu chứng cơ năng

Bệnh nhân tới khám cần chú ý các triệu chứng lâm sàng sau đây gợi ý tình trạng viêm tuyến tiền liệt cấp tính:

- Sốt, gai rét.

- Đau cơ, đau khớp.

- Đau vùng hạ vị hay vùng đáy chậu.

- Biểu hiện tiểu khó.

- Ngoài ra có thể có tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu nhiều về đêm, tiểu ngắt ngừng, tia tiểu yếu và cảm giác không thoải mái sau đi tiểu.

- Đau vùng thắt lưng.

- Tiết dịch niệu đạo một cách tự nhiên.

Với những bệnh nhân viêm tuyến tiền liệt mạn tình thì hầu như không có triệu chứng lâm sàng. Có một số biểu hiện có thể là dấu hiệu gợi ý như sau:

- Tiểu ngắt ngừng hay tiểu khó.

- Các biểu hiện tắc nghẽn đường tiểu dưới.

- Tiền sử viêm nhiễm tiết niệu tái phát nhiều lần.

Với những bệnh nhân viêm tuyến tiền liệt kèm có hội chứng đau vùng chậu mạn tính thường xuất hiện các triệu chứng:

- Thường xuyên hoặc luôn có cảm giác khó chịu vùng chậu như: đau tức vùng tầng sinh môn, đau tức hạ vị, khó chịu ở niệu đạo, tinh hoàn kéo dài 3 - 6 tháng mà trước đó không có biểu hiện hay điều trị về nhiễm khuẩn tiết niệu sinh dục

- Các triệu chứng của tắc nghẽn đường tiểu như tiểu nhiều lần, tiểu khó và tiểu không hết bãi.

- Đau cơ quan sinh dục sau khi xuất tinh hoặc khi cương để quan hệ.

- Biểu hiện rối loạn cương dương.

2. Khám thực thể

Chủ yếu khám thăm trực tràng để đánh giá tuyến tiền liệt.

- Với những bệnh nhân có viêm tiền liệt tuyến cấp tính cần mô tả các dấu hiệu sau:

+ Tuyến tiền liệt có mật độ mềm, sờ nóng, ấn đau tức khi thăm trực tràng.

+ Đau vùng hạ vị.

+ Có thể có cầu bàng quang do bí tiểu cấp.

Tuy nhiên hạn chế xoa bóp để lấy dịch trong trường hợp nghi ngờ viêm tuyến tiền liệt cấp.

- Với những bệnh nhân viêm mạn tính do vi khuẩn thì chú ý các dấu hiệu sau:

+ Khám sờ nắn thấy tuyến tiền liệt bình thường.

+ Có đau tức hạ vị mà tiền sử có đợt viêm cấp tính.

- Bệnh nhân viêm mạn tính kèm hội chứng đau vùng chậu thì ngoài các triệu chứng như trên thì có thể xuất hiện tăng co thắt cơ vùng trực tràng.

3. Cận lâm sàng

- Xét nghiệm máu cơ bản như tổng phân tích máu, chức năng thận, chức năng gan, PSA.

*

Xét nghiệm máu cơ bản như tổng phân tích máu, chức năng thận, chức năng gan, PSA.

- Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, cặn nước tiểu.

- Cấy nước tiểu hay cấy dịch tiết từ tuyến tiền liệt chẩn đoán xác định nguyên nhân do vi khuẩn gây bệnh.

- Siêu âm tổng quát ổ bụng hoặc chụp niệu đạo ngược dòng có cản quang đánh giá lượng nước tiểu tồn dư.

- Siêu âm qua ngả trực tràng giúp đánh giá chính xác và mô tả chi tiết tuyến tiền liệt mà đường bụng hạn chế khảo sát. Tuy nhiên cần phải được làm bởi bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm được đào tạo.

- Chụp CT Scanner vùng chậu giúp chẩn đoán rõ hơn các bệnh lý như ung thư tuyến tiền liệt, áp xe tuyến tiền liệt…hay các bệnh lý khác liên quan gây đau vùng chậu mạn tính.

Chẩn đoán phân biệt

- U phì đại lành tính tuyến tiền liệt.

- Ung thư tuyến tiền liệt.

- Ung thư tinh hoàn.

- Các bệnh lý sỏi niệu quản, sỏi thận hay sỏi bàng quang.

- Rối loạn cương dương.

- Các bệnh lý đau mạn tính vùng chậu do chèn ép rễ thần kinh.


1 Viêm tuyến tiền liệt cấp tính

- Không phải kháng sinh nào điều trị cũng khuếch tán tốt vào nhu mô của tuyến tiền liệt.

- Điều trị kháng sinh bước đầu, nếu chưa có kết quả cấy dịch hay cấy nước tiểu thì cần điều trị theo kinh nghiệm là hướng đến các vi khuẩn gram âm trước.

- Kháng sinh lựa chọn đầu tay là nhóm Fluoroquinilon: hai kháng sinh được hay dùng là Ciprofloxacin 500mg/12 giờ hoặc Levofloxacin 500mg/ngày.

- Ngoài ra nhóm kháng sinh Trimethoprim- sulfamethozazole 960mg/12 giờ cũng có hiệu quả tốt trong điều trị viêm cấp tính tuyến tiền liệt.

- Đối với nam giới trẻ, quan hệ với nhiều bạn tình có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục rất cao như vi khuẩn lậu, chlamydia: thì ưu tiên sử dụng kháng sinh Azithromycin 1g liều duy nhất hoặc Azithromycin 500mg/ngày đầu và duy trì 250mg/ ngày trong 7 - 10 ngày.

- Một số trường hợp đặc biệt có nguy cơ sốc nhiễm khuẩn hoặc nguy cơ nhiễm khuẩn huyết cần được nhập viện điều trị nội trú.

+ Levofloxacin IV 500mg/ngày hoặc Ciprofloxacin IV 400mg/12 giờ

*

Levofloxacin IV 500mg/ngày hoặc Ciprofloxacin IV 400mg/12 giờ

+ Có thể phối hợp với nhóm thuốc aminoglycoside (Gentamycin hoặc tobramycin) nếu chức năng thận bình thường.

2 Viêm tuyến tiền liệt mạn tính

- Điều trị ban đầu:

+ Kháng sinh được lựa chọn đầu tay cũng giống như điều trị viêm tuyến tiền liệt cấp tính vẫn là nhóm Fluoroquinolon và sulfonamide.

+ Liều tương tự như điều trị viêm TTL cấp tính nhưng thời gian điều trị cần tối thiểu 6 tuần.

+ Trong những trường hợp vi khuẩn kháng với nhóm kháng sinh Fluoroquinolon có thể đổi: Doxycycline hoặc Azithromycin.

+ Fosfomycin cũng cho thấy có khả năng khuếch tán tốt vào nhu mô tuyến tiền liệt.

- Điều trị với những trường hợp tái phát:

+ Nhóm Fluoroquinolon vẫn là nhóm thuốc đầu tay ưu tiên điều trị, tuy nhiên thời gian cần kéo dài ít nhất 6 tuần.

Xem thêm: Gia Đình Là Số 1 Sitcom

+ Nhóm thuốc Trimethoprim - Sulfamethoxazole là thuốc thay thế có hiệu quả trong các trường hợp điều trị tái phát viêm tuyến tiền liệt.